ĐHĐN báo cáo sơ kết 1 năm thực hiện Chỉ thị 296/CT-TTg

 

Thực hiện công văn số 70/BGD ĐT-GDĐH ngày 06/01/2011 về việc báo cáo sơ kết 1 năm thực hiện Chỉ thị 296/CT-TTg ngày 27/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012, Đại học Đà Nẵng (ĐHĐN) xin được báo cáo như sau:

Giới thiệu chung:

ĐHĐN được thành lập theo Nghị định số 32/CP ngày 04/4/1994 của Chính phủ. Sau hơn 15 năm xây dựng và phát triển, hiện nay ĐHĐN gồm có:

- 08 trường, đơn vị thành viên: Trường ĐH Bách khoa, Trường ĐH Kinh tế, Trường ĐH Sư phạm, Trường ĐH Ngoại ngữ, Trường CĐ Công nghệ, Trường CĐ Công nghệ thông tin, Phân hiệu ĐHĐN tại Kon Tum và Khoa Y Dược trực thuộc;

- 26 viện, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ

- 1338giảng viên/1980 cán bộ viên chức; trong đó có 43 giáo sư và phó giáo sư, 203 tiến sĩ khoa học và tiến sĩ, 632 thạc sĩ, 358 giảng viên chính; và gần 300 giảng viên đang được đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, phần lớn ở nước ngoài.

1.  Những kết quả đạt được về đổi mới quản lý giáo dục đại học tại ĐHĐN năm 2010:

1.1. Tổ chức Hội thảo quán triệt, thực hiện Chỉ thị 296/CT-TTg.

Theo những nội dung gợi ý tại công văn số 1242/BGDĐT-VP của Bộ GD&ĐT v/v hướng dẫn tổ chức thảo luận, quán triệt Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết 05 của Ban Cán sự Đảng Bộ GD&ĐT, ĐHĐN đã tổ chức Hội thảo quán triệt, thực hiện Chỉ thị 296/CT-TTg ngày 27/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2012 theo hai cấp: cấp trường thành viên và cấp đại học vùng.

Tại hội thảo cấp đại học vùng ngày 28/4/2010, ĐHĐN đã cam kết thực hiện 11 điểm về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2012 (đã báo cáo Bộ GD&ĐT tại công văn số 1677/ĐHĐN-VP ngày 04/5/2010).

Dựa trên các kết luận chỉ đạo của hội thảo, quán triệt sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đổi mới quản lý giáo dục, trên cơ sở chiến lược phát triển ĐHĐN giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn đến 2020 đã được hoạch định, từng trường, đơn vị thành viên đã xây dựng Chương trình hành động về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 nhằm chuyên nghiệp hoá đội ngũ giảng viên và các nhà quản lý; cải tiến nâng cao hiệu quả công tác quản lý đào tạo, thường xuyên cập nhật và đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy-học; thường xuyên tăng cường cơ sơ vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học; xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường với các cơ sở doanh nghiệp nhằm giải quyết tối ưu bài toán quy mô và chất lượng đào tạo; từng bước rút giảm tỷ lệ giảng viên trên sinh viên để đạt chuẩn 1/20 vào năm 2015, v.v...

Cuộc vận động về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 được triển khai sâu rộng trong toàn ĐHĐN đã thực sự tạo ra một bước chuyển biến lớn trong tư tưởng, ý thức trách nhiệm của cán bộ, viên chức và sinh viên của nhà trường. Mỗi cán bộ, viên chức thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc thực thi nhiệm vụ, tất cả vì sự lớn mạnh của ĐHĐN và các trường thành viên. Đối với sinh viên, các buổi trao đổi, thảo luận Chương trình hành động được lồng ghép vào các buổi sinh hoạt lớp, hoạt động của Đoàn Thanh niên nên nội dung dễ dàng đến được từng sinh viên.

1.2. Thực hiện quy chế ba công khai đối với các cơ sở giáo dục đại học theo quy định tại Thông tư 09/2009/TT-BGDĐT.

Đó là công khai cam kết chất lượng giáo dục và chất lượng thực tế; công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục (đội ngũ kèm theo lý lịch khoa học, cơ sở vật chất); công khai thu - chi tài chính. Đồng thời ĐHĐN đã  xác lập chuẩn đầu ra sinh viên từ khóa 2010 trở đi theo 09 tiêu chí: đạo đức; trình độ tư duy; năng lực chuyên môn; khả năng làm việc theo nhóm; năng lực chỉ huy, lãnh đạo; khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ; khả năng ứng xử; tự học tập nghiên cứu phát triển; tổ chức cuộc sống và thích nghi với môi trường công tác. Các chuẩn đầu ra trên đây được gộp thành 04 nhóm tiêu chí: đạo đức, tác phong; trình độ chuyên môn; kỹ năng sống, hội nhập; năng lực tư duy và tiềm năng phát triển. Các trường thành viên, phân hiệu, đơn vị trực thuộc của ĐHĐN dựa vào 04 nhóm tiêu chí này để phân loại sinh viên tốt nghiệp theo tổng số điểm 100. Các tài liệu công khai trên đây đã được thông báo đầy đủ trên trang thông tin điện tử của ĐHĐN www.udn.vn và niêm yết tại văn phòng các khoa, thư viện thuộc các trường thành viên, đơn vị trực thuộc và Trung tâm Thông tin - Học liệu ĐHĐN từ ngày 15/9/2009.

Bên cạnh đó, các trường thành viên (tham gia kiểm định chất lượng giáo dục) cũng đã công khai kết luận kiểm định trường đại học của Hội đồng Kiểm định Chất lượng giáo dục, công khai về thông tin cấp phát văn bằng tốt nghiệp của trường mình,...

Các công khai trên là nguồn thông tin đáng tin cậy cho thí sinh và các bậc phụ huynh trước khi quyết định đăng ký dự tuyển, theo học; đồng thời cũng là cơ sở để các nhà tuyển dụng biết rõ hơn về chất lượng nguồn lực tuyển dụng.

1.3. Nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ.

ĐHĐN là một trong những đơn vị tiên phong trong việc tín chỉ hóa đào tạo. Công tác quản lý theo hệ thống tín chỉ được nhà trường tiến hành từ năm 2006 và được tin học hóa một cách triệt để và khoa học; theo đó việc đăng ký học phần đều thực hiện qua mạng nên rất thuận lợi cho sinh viên. Trong quá trình triển khai tuy cũng có lúc chưa thật suôn sẻ song về căn bản đã đi vào nền nếp ổn định và thật sự có hiệu quả. Cùng với việc tin học hóa đào tạo theo tín chỉ, nhiều quy định đào tạo mới tương thích thực tiễn đã được ban hành, tạo điều kiện thuận lợi không chỉ cho việc quản lý đào tạo mà cả việc học tập của sinh viên. Cùng với các chương trình đào tạo hệ chính quy, các chương trình đào tạo hệ vừa làm vừa học, hệ đào tạo liên thông,... cũng đã được rà soát lại và hiệu chỉnh cho phù hợp với thực tiễn.

Trong năm 2010, ĐHĐN đã tập trung đầu tư cơ sở vật chất, con người cho công tác quản lý hệ thống đào tạo theo tín chỉ: trang bị mới nhiều máy tính cấu hình mạnh, nâng cấp hệ thống mạng nội bộ, tăng cường nhân lực công nghệ thông tin,... Nhờ vậy công tác quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ được cải thiện, phù hợp với thực tế hơn.

1.4. Tham gia kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học.

Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN là một trong 20 trường đại học đầu tiên tham gia kiểm định chất lượng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ GD&ĐT. Trong đợt tự nguyện tham gia đánh giá ngoài vào tháng 10/2006, trường được Hội đồng Quốc gia công nhận là trường đạt chất lượng giáo dục. Theo chân Trường ĐH Bách khoa, Trường Kinh tế và các trường thành viên khác thuộc ĐHĐN tiếp tục tham gia kiểm định chất lượng giáo dục. Đến nay công tác đảm bảo chất lượng giáo dục tại ĐHĐN ngày càng được hoàn thiện nâng cao.

Năm 2010 ĐHĐN và các trường thành viên đã tập trung chú trọng:

- Tăng cường nâng cao nhận thức về kiểm định chất lượng của cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên. 

- Tổ chức bồi dưỡng phương pháp giảng dạy và đánh giá cho cán bộ, giảng viên, đặc biệt là phương pháp đánh giá học phần và phương pháp xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Đến nay, một số bộ môn đã hoàn thiện việc xây dựng ngân hàng đề thi trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận, và theo đó công tác đánh giá kết quả học tập của sinh viên đã có nhiều thay đổi tích cực. Bên cạnh đó, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, các trường thành viên còn tổ chức các hội nghị về đào tạo tín chỉ, công tác giáo viên chủ nhiệm, việc đổi mới phương pháp giảng dạy trong đào tạo tín chỉ, ...

Trường ĐH Bách khoa đã tích cực tham gia đợt đánh giá CTI - kiểm định chương trình đào tạo Kỹ sư chất lượng cao Việt – Pháp (PFIEV) và đã được Chính phủ CH Pháp tái công nhận văn bằng của chương trình giai đoạn 2010-2016. Kết quả kiểm định này là điều kiện thuận lợi để giới thiệu hình ảnh của ĐHĐN với các nước trên thế giới. Ngoài ra, trong năm 2010, trường cũng đã tích cực triển khai kiểm định chương trình Sư phạm Kỹ thuật theo bộ tiêu chuẩn về kiểm định chương trình đào tạo giáo viên TCCN; tổ chức lấy ý kiến các chuyên gia về nội dung của các tiêu chí đánh giá; góp ý cho Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng về các tiêu chuẩn và tiêu chí kiểm định chương trình đào tạo giáo viên TCCN. Hiện nay trường cũng đang biên soạn hoàn chỉnh những tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá chương trình và các biểu mẫu báo cáo, để các khoa góp ý và thực hiện đánh giá thử nghiệm.

- Những năm qua các trường đã tiến hành nhiều cuộc khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên, thu thập ý kiến của nhà tuyển dụng, qua đó nhằm đánh giá tính phù hợp của chương trình đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động, nắm bắt nhu cầu đào tạo của xã hội và thiết kế chương trình đào tạo cho phù hợp.

1.5. Đổi mới hoạt động đào tạo.

ĐHĐN đã và đang triển khai thực hiên cac chủ trương:

- Phân tầng đại học thành hệ tinh hoa và hệ nghề nghiệp, thực hiện quan điểm đào tạo “Chất lượng cao – Học phí cao” mà Quốc hội đã thông qua.

- Kết hợp việc đào tạo sau đại học với nghiên cứu khoa học theo hướng phân luồng đào tạo thạc sĩ: thạc sĩ nghiên cứu và thạc sĩ nghề nghiệp.

- Nghiên cứu, điều chỉnh chương trình đào tạo, phương pháp sư phạm và giảng viên đối với các môn học được giảng dạy ở năm thứ nhất, nhất là các môn học của giai đoạn đại cương nhằm kích thích hứng thú và sự đầu tư học tập, nghiên cứu của sinh viên đầu khóa học.

- Quyết liệt thực hiện chủ trương tất cả các môn học ở bậc đại học và sau đại học được giảng dạy ở ĐHĐN nhất thiết phải có bài giảng, giáo trình đưa lên mạng Internet.

- Tổ chức xây dựng thí điểm một số bài giảng, giáo trình kèm theo các tài liệu hướng dẫn hỗ trợ học tập, nghiên cứu để từ đó nhân rộng ra toàn ĐHĐN; ĐHĐN và các trường sẽ hỗ trợ kinh phí xây dựng các loại tài liệu này.

- Tăng cường việc quản lý giảng viên theo tình hình thực tế; giao cho Công đoàn phối hợp với chính quyền các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình giảng dạy và nghiên cứu của giảng viên.

- Giao cho Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên tuyên truyền giáo dục cho sinh viên về động cơ học tập đúng đắn; khuyến khích, động viên sinh viên tự đào tạo, học tập làm việc theo nhóm và học hỏi lẫn nhau.

- Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường với các cơ sở doanh nghiệp nhằm chọn lựa đối tác xây dựng, phát triển chiến lược đào tạo như cơ sở thực hành, thực tập, đặt hàng nghiên cứu, mời chuyên gia thực tiễn,…

1.6. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ.

- Nhằm tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ trong tất cả các lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu và quản lý, đủ sức đáp ứng nhu cầu phát triển nhà trường trong giai đoạn mới, ĐHĐN đã và đang triển khai kế hoạch phát triển đội ngũ với cơ chế, giải pháp năng động đa dạng, vừa mềm dẻo vừa quyết liệt, vừa động viên vừa bắt buộc: Giảng viên dưới 45 tuổi phải lập kế hoạch đi học để sau 5 năm phải đạt được trình độ Tiến sĩ; số giảng viên trẻ mới tuyển dụng chậm nhất 30 tuổi phải có trình độ Thạc sĩ và 38 tuổi phải có trình độ Tiến sĩ; khuyến khích số cán bộ trẻ đi đào tạo sau đại học ở nước ngoài.

- Để đạt mục tiêu trên, ĐHĐN đã tạo nhiều điều kiện và tích cực tìm kiếm các nguồn học bổng khác nhau như học bổng của Nhà nước theo Đề án 322, học bổng của Dự án Giáo dục Đại học 2 (TRIG), học bổng của Thành phố Đà Nẵng và các nguồn khác đưa ngày càng nhiều cán bộ trẻ được đi đào tạo ở nước ngoài. Những năm gần đây mỗi năm ĐHĐN đã cử gần 100 giảng viên/năm đi đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ, trong đó chủ yếu gửi đi đào tạo ở nước ngoài. Con số khá cao thể hiện sự năng động và quyết tâm của ĐHĐN trong công tác đào tạo đội ngũ. Số lượng CBVC tuyển mới hai năm gần đây cũng tăng 1,6 lần so với hai năm trước. Hai năm qua ĐHĐN đã đón nhận 33 tiến sĩ, phần lớn được đào tạo và tốt nghiệp ở nước ngoài, về lại công tác; 20 nhà giáo được phong tặng chức danh giáo sư và phó giáo sư. 

- Công tác chuyên nghiệp hoá đội ngũ quản lý được ĐHĐN đặc biệt chú trọng. Cán bộ quản lý phải có kiến thức về quản trị đại học hiện đại, có tầm nhìn xa, nắm bắt được xu thế phát triển các lĩnh vực khoa học–công nghệ và quản lý trên thế giới để xác định mục tiêu chiến lược phát triển nhà trường; có bản lĩnh, sự tự tin, có tinh thần đổi mới, chủ động trong điều hành đơn vị của mình để đạt hiệu quả sử dụng nguồn lực cao nhất; có tính nhân văn sâu sắc, là hạt nhân đoàn kết nội bộ, vừa biết chăm lo đời sống cán bộ công chức vừa giỏi thuyết phục cán bộ công chức thực hiện công cuộc đổi mới giáo dục đại học; biết tạo lập quan hệ với địa phương và cộng đồng doanh nghiệp; là người quản lý giỏi đồng thời là nhà khoa học tốt, kịp thời nắm bắt những khó khăn, vướng mắc và tìm cách tháo gỡ, đồng thời tổ chức, gây dựng phong trào nghiên cứu khoa học tại đơn vị.

Mặt khác, đội ngũ cán bộ quản lý đã không ngừng được củng cố, bổ sung đáp ứng được yêu cầu về quy mô quản lý đối với một đại học vùng trọng điểm. Đã có sự luân chuyển đội ngũ cán bộ quản lý lãnh đạo từ cơ quan về các Trường thành viên và ngược lại, để đảm bảo cho cán bộ vừa nắm được những vấn đề cụ thể của quản lý nhà trường vừa có những tầm nhìn chung cho trong toàn ĐHĐN. Tăng cường việc quản lý giảng viên theo tình hình thực tế; giao cho Công đoàn phối hợp với chính quyền các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình giảng dạy và nghiên cứu của giảng viên.

- Trong những năm qua, ĐHĐN tăng cường bồi dưỡng phương pháp dạy - học đại học, đào tạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh cho giảng viên, nhất là giảng viên trẻ. Xây dựng “Quỹ hỗ trợ cán bộ trẻ” nhằm hỗ trợ một phần cho cán bộ trẻ nâng cao năng lực chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, v.v... ĐHĐN chủ trương cho mời giảng viên tình nguyện từ các nước Anh, Mỹ, Úc, Nhật,... đến làm việc tại các trường, giúp giảng viên và sinh viên nâng cao trình độ ngoại ngữ. Các trường đã tổ chức thí điểm sinh viên đánh giá giảng viên thông qua đánh giá các học phần, đồng thời bồi dưỡng cho các nhóm sinh viên tự khảo sát lấy ý kiến của cộng đồng sinh viên trong trường về các hoạt động của nhà trường, trong đó đề cập đến hoạt động giảng dạy của thầy và hoạt động học tập, sinh hoạt của trò nhằm tăng cường vai trò trách nhiệm của sinh viên đối với sự phát triển của nhà trường.

 

1.7. Đổi mới công tác nghiên cứu khoa học.

Hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ luôn được xem là nhiệm vụ trọng tâm của cán bộ, giảng viên ĐHĐN.

- Nhằm tập hợp các nhà nghiên cứu của nhiều ngành, phát huy tối đa năng lực nghiên cứu của tập thể và cá nhân, những năm qua ĐHĐN chủ trương thành lập các nhóm giảng dạy–nghiên cứu (Teaching Research Teams - TRT). Cho tới nay, các nhóm TRT đã phát huy tác dụng mạnh mẽ trong nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt đào tạo sau đại học. Các công trình nghiên cứu có giá trị, các bằng phát minh sáng chế được áp dụng trong công nghiệp, các đề tài khoa học, dự án hợp tác quốc tế của ĐHĐN cũng xuất phát từ các các nhóm TRT này. Chẳng hạn, năm 2010, nhóm nghiên cứu về Hóa tính toán và Công nghệ Sinh học (Trường ĐH Bách khoa) đã nhận được 02 đề tài từ quỹ NAFOSTED. Hiện nay ĐH ĐN đã xây dựng được 09 nhóm TRT. Trên cơ sở kinh nghiệm của các nhóm giảng dạy–nghiên cứu đã được hình thành tại Trường ĐH Bách khoa, trong giai đoạn tới ĐHĐN sẽ củng cố và tăng cường thêm các nhóm giảng dạy–nghiên cứu cả về số lượng lẫn chất lượng.  

- ĐHĐN một mặt đổi mới việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo ở các trường, đơn vị thành viên theo yêu cầu của từng nhóm giảng dạy–nghiên cứu (TRT), mặt khác chủ trương thành lập Trung tâm Công nghệ cao ĐHĐN (TECHNOPOLE) – nơi ươm tạo công nghệ, phát triển những công trình nghiên cứu của cán bộ, giảng viên ĐHĐN để áp dụng trong thực tiễn. Trung tâm này sẽ tạo điều kiện phát triển các mối quan hệ giữa nhà trường và các cơ sở doanh nghiệp để các nghiên cứu, phát minh nhanh chóng đi vào cuộc sống. Các nhóm TRT nêu trên được đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất và đào tạo cán bộ. Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, trước hết cho các nhóm giảng dạy–nghiên cứu có nơi làm việc, giảng viên có “góc nghiên cứu” riêng.

- Tuy nhiên, xuất phát từ chủ trương đưa nhiều cán bộ, giảng viên trẻ đi đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ngoài (hiện nay khoảng 300 cán bộ, giảng viên), đồng thời do giảng viên còn phải tham gia giảng dạy nhiều (tỉ lệ sinh viên/cán bộ còn cao) nên hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vẫn chưa thật đồng đều.

1.8.  Đổi mới công tác quản lý tài chính.

- ĐHĐN đã sớm ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ ĐHĐN (năm 2006). Đến nay hầu hết các trường, đơn vị trực thuộc đã ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ; 04 trung tâm trực thuộc ĐHĐN được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính theo tinh thần Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã phát huy hiệu quả.

- Năm học qua, ĐHĐN điều hành có hiệu quả việc thu chi; minh bạch hóa chứng từ, sổ sách; kiểm tra, kiểm soát thường xuyên công tác quản lý tài chính của tất cả các đơn vị thành viên. Các đoàn Kiểm toán, Thanh tra Tài chính về kiểm tra đã khẳng định sự công khai, minh bạch và đúng luật của hoạt động tài chính ĐHĐN. 

- Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giám đốc cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban chức năng, công tác tài chính của ĐHĐN ngày càng hoàn thiện. ĐHĐN tập trung ưu tiên chi cho con người, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, do vậy các chỉ tiêu kinh tế đều đạt và đạt vượt mức so với dự toán đã được duyệt. Hàng năm hoạt động tài chính của ĐHĐN và các trường thành viên được thể hiện trên các báo cáo quyết toán tài chính, các khoản chi, thanh toán đã tuân thủ dự toán, đảm bảo chế độ chi tiêu theo quy định tài chính, mở sổ sách theo dõi đầy đủ và rõ ràng các khoản chi, nội dung chi. Nhờ tin học hóa, công tác quản lý tài chính được giám sát chặt chẽ, chính xác, tin cậy. Các khoản thu của từng cá nhân được thông báo đến từng cá nhân qua hệ thống mạng nội bộ nên việc theo dõi, nắm bắt thông tin là rất rõ ràng, minh bạch.

1.9. Đổi mới công tác hành chính.

ĐHĐN và các trường thành viên trong năm qua đã triển khai hệ thống ISO 9001:2000, góp phần tích cực trong việc đổi mới quản lý hành chính của nhà trường. Theo đó, hệ thống văn bản được rà soát, điều chỉnh hợp lý hơn, thực sự đã giảm được các thủ tục hành chính rườm rà cho cán bộ, viên chức. Việc quản lý công văn đi, đến được thực hiện bằng phần mềm tin học, thông qua mạng giáo dục - đào tạo và mạng nội bộ, các đơn vị được nhận công văn kịp thời. Các ban chức năng có thể giám sát được việc nhận, chuyển công văn của các đơn vị. Qua hơn một năm triển khai, toàn thể cán bộ viên chức đã nhận thức được việc cần thiết phải áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý, thực hiện nghiêm túc, đảm bảo công văn đi đến đúng địa chỉ, đúng bộ phận. Hiện tượng chậm trễ trong quá trình triển khai thực hiện đã được giảm thiểu rất đáng kể.

2.  Kế hoạch đổi mới quản lý giáo dục đại học tại ĐHĐN năm 2011:

Đến nay ĐHĐN và các trường thành viên (kể cả các khoa trực thuộc các trường) đã xây dựng xong chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn đến 2020, trong đó định hướng rõ mục tiêu đào tạo, kế hoạch đào tạo (dự kiến các mã ngành mới, đảm bảo chất lượng, chuẩn đầu ra...), kế hoạch phát triển đội ngũ, kế hoạch phát triển nghiên cứu khoa học (định hướng nghiên cứu, xây dựng các nhóm giảng dạy-nghiên cứu, lập danh mục các đề tài nghiên cứu,…); kế hoạch phát triển cơ sở vật chất, v.v...

Trên nền tảng định hướng này, cùng với việc tiếp tục thực hiện các bước đổi mới trong năm 2010, ĐHĐN xây dựng kế hoạch đổi mới quản lý giáo dục đại học năm 2011 với những nội dung chủ yếu sau đây:

2.1. Đổi mới hoạt động  quản lý:

- Rà soát và hoàn thiện các văn bản nhằm đổi mới công tác quản lý như quy định về phân công trách nhiệm, quy định về chế độ làm việc, hoạt động đào tạo, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, hoạt động khoa học - công nghệ, …

- Bổ sung, điều chỉnh quy chế chi tiêu nội bộ ĐHĐN và các trường, đơn vị thành viên theo tinh thần Nghị định 43/2006/NĐCP và Thông tư Liên tịch 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV;

- Triển khai thực hiện Thông tư số 01/2011/BNV ngày 19/01/2011 về việc hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính của Bộ Nội vụ; tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản lý văn bản hành chính theo đúng tiêu chuẩn ISO, áp dụng mạnh mẽ tiêu chuẩn quản lý của ISO nhằm nâng cao hiệu quả quản lý;

-Tăng cường hơn nữa ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực quản lý hành chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học, tài chính, v.v...

2.2. Đổi mới hoạt động đào tạo:

- Tiếp tục triển khai chủ trương phân tầng đại học thành hệ tinh hoa và hệ nghề nghiệp và phân luồng đào tạo thạc sĩ theo hướng đào tạo song song thạc sĩ nghiên cứu và thạc sĩ nghề nghiệp;

- Tiếp tục hoàn thiện, tiến tới triệt để hóa đào tạo theo hệ thống tín chỉ;

- Tiếp tục tham gia kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế;

- Trên cơ sở điều tra khảo sát nhu cầu lao động xã hội, rà soát lại cơ cấu ngành nghề đào tạo, tạm ngưng đào tạo các ngành nghề xã hội mà nhu cầu nhân lực không cao; mở các mã ngành mới, có nhu cầu tuyển dụng lớn, kịp thời đáp ứng thị trường lao động xã hội;

- Khuyến khích, hỗ trợ các trường thành viên tiếp tục xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến, phấn đấu mỗi trường có từ 02 chương trình tiên tiến trở lên;

- Nâng cao chất lượng đào tạo các tín chỉ của các môn khoa học cơ bản;

- Tăng cường ngoại ngữ cho các sinh viên để đạt chuẩn đầu ra;

- Thực hiện việc sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy của 100% giảng viên trong nhà trường và giảng viên tham gia đánh giá hoạt động của lãnh đạo nhà trường;

- Cập nhật các thông tin về ba công khai trên trang web của ĐHĐN và các trường thành viên.

2.3. Đổi mới hoạt động khoa học công nghệ:

- Củng cố và tăng cường các nhóm giảng dạy–nghiên cứu cả về số lượng lẫn chất lượng; mỗi trường phấn đấu xây dựng từ 02 nhóm TRT trở lên;

- Đưa tiêu chí hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thành tiêu chí quan trọng trong đánh giá giảng viên;

- Chuyển đổi các trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ sang hoạt động theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP;

- Thành lập Trung tâm Công nghệ cao ĐHĐN (TECHNOPOLE) – nơi ươm tạo công nghệ, phát triển những công trình nghiên cứu của cán bộ, giảng viên ĐHĐN để áp dụng trong thực tiễn;

- Nghiên cứu đổi mới cấu trúc quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo và nghiên cứu khoa học.

3. Những đề xuất, kiến nghị.

ĐHĐN xin được đề xuất, kiến nghi với Bộ GD&ĐT một số vấn đề như sau:

            3.1. Khó khăn lớn nhất là hiện nay thu nhập của cán bộ giảng dạy còn thấp, nhất là cán bộ trẻ nên nhà trường chưa thực sự thu hút được sinh viên giỏi, xuất sắc ở lại trường, thậm chí có nhiều giảng viên xin chuyển công tác. Đề nghị Nhà nước cần đầu tư kinh phí để tăng cường nguồn lực tài chính cho các Trường, giúp các trường xây dựng đội ngũ đủ về lượng, vững về chất, hợp lý về cơ cấu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học theo yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

            3.2. Đề nghị Bộ GD&ĐT cho phép thành lập Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông trên cơ sở Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin (đã có tờ trình và hồ sơ đệ trình lên Bộ).

            3.3. Hiện nay, ĐHĐN đang tích cực cùng nhóm tư vấn của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai trình Chính phủ và Bộ GD&ĐT phê duyệt Dự án xây dựng Trường Đại học Quốc tế Đà Nẵng. Đề nghị Bộ GD&ĐT hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho ĐHĐN xây dựng, xúc tiến và triển khai dự án trong thời gian sớm nhất có thể.

            3.4. Trong thời gian qua, với sự giúp đỡ đầu tư của Nhà nước và sự cố gắng tích lũy từ nguồn thu học phí, ĐHĐN đã nỗ lực tăng cường đầu tư cơ sở vật chất phục vụ đào tạo. Mặt khác, nhà trường cũng đã tích cực tìm kiếm các nguồn khác từ các tổ chức phi Chính phủ như Tổ chức Đông Tây hội ngộ, AP để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất cho nhà trường. Nhìn chung, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy của ĐHĐN là tương đối tốt, đáp ứng được nhu cầu đào tạo. Tuy nhiên, so với yêu cầu thì chưa thể đáp ứng được do số lượng sinh viên quá đông. Vì vậy, Nhà nước cần tăng cường đầu tư hoặc tạo cơ chế cho các địa phương, tổ chức, cá nhân đầu tư vào ký túc xá để đáp ứng nhu cầu về chỗ ở cho sinh viên và tạo thuận lợi cho nhà trường trong công tác quản lý sinh viên. Mặt khác, do thực tế đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đào tạo nên Nhà nước cần đầu tư hơn nữa cho đào tạo đại học và sau đại học từ nguồn ngân sách Nhà nước và sớm ban hành chính sách học phí mới để giúp các trường có điều kiện tăng cường cơ sở vật chất nâng cao chất lượng đào tạo.

            3.5. Đề nghị Bộ GD&ĐT quan tâm cấp vốn cho ĐHĐN để triển khai Dự án Làng Đại học Đà Nẵng tại Hòa Quý - Điện Ngọc, bảo đảm đủ vốn cho việc thực hiện Dự án Giai đoạn 3 Làng Đại học Đà Nẵng.

            3.6. Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã tạo quyền tự chủ rất lớn cho các Trường Đại học, nhất là quyền tự chủ về tài chính và biên chế nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các trường trong việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình. Tuy nhiên, nguồn thu chủ yếu của các trường là từ nguồn học phí nhưng học phí lại tăng không đáng kể trong khi giá cả các dịch vụ đều tăng, nhất là dịch vụ công cộng. Vì vậy, hiện nay các trường đại học nói chung và ĐHĐN nói riêng gặp rất nhiều khó khăn về tài chính để trả lương, giờ giảng và đầu tư tăng cường cơ sở vật chất. Do đó, ĐHĐN xin có một số kiến nghị về chế độ chính sách:

- Đề nghị Bộ GD&ĐT cấp kinh phí bổ sung chi thường xuyên cho đơn vị để giải quyết nhu cầu tăng lương cơ bản và bù trượt giá, nhất là cấp bổ sung cho 2 trường trực thuộc là Trường Đại học Sự phạm và Trường Đại học Ngoại ngữ; vì thực tế 2 trường này nếu trích nguồn 40% theo tinh thần Thông tư số 89/2005/TT-BTC thì không đáp ứng được lộ trình tăng lương của Nhà nước nên ĐHĐN phải điều tiết nguồn thu từ các trường trực thuộc khác dẫn đến tâm lý không thuận giữa các trường;

- Hiện nay theo quy định thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị phải trải qua nhiều giai đoạn, mất rất nhiều thời gian để hoàn thành thủ tục đầu tư, mua sắm. Mặt khác, đối với trang thiết bị của các dự án tăng cường năng lực nghiên cứu là thiết bị công nghệ cao phục vụ cho công tác nghiên cứu nên phải nhập ngoại thủ tục đặt hàng nhập khẩu thường phải mất trên 60 ngày, đồng thời thời gian lắp đặt chuyển giao công nghệ mất trên 30 ngày. Do đó, để giúp ĐHĐN thực hiện việc đầu tư,  mua sắm đúng thủ tục và triển khai kịp tiến độ đề nghị Bộ GD&ĐT cần nhanh chóng giải quyết các thủ tục thẩm định và phê duyệt, tạo điều kiện hoàn thành mọi thủ tục trong thời gian sớm nhất.

Trên đây là những kết quả ĐHĐH đã đạt được sau một năm thực hiện Chỉ thị 296/CT-TTg về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012. Với tinh thần đoàn kết - đổi mới - phát triển, ĐHĐN quyết tâm thực hiện một cách có hiệu quả kế hoạch đề ra trong năm 2011. Đại học Đà Nẵng rất mong nhận được sự giúp đỡ của lãnh đạo Bộ GD&ĐT và các Vụ chức năng của Bộ để hoàn thành tốt nhất chương trình hành động đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012. 

 

Xem file đính kèm tại đây.