CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2010 - 2012

 

I. Giới thiệu chung

Đại học Đà Nẵng là một đại học Vùng, đa ngành, đa lĩnh vực với 1.980 cán bộ, trong đó số lượng giảng viên là 1.336 người. Đại học Đà Nẵng đang triển khai đào tạo cho 85.756 sinh viên, trong đó có 48.239 sinh viên chính qui bậc đại học và cao đẳng. Trong đó, Trường ĐHBK 21.069 (CQ 18.101), Trường ĐHKT 20.429 (CQ 8.960), Trường ĐHSP 10.663 (CQ 6.139), Trường ĐHNN 7.601 (CQ 4.720), Phân hiệu Kontum 2.376 (CQ 1.379), Trường CĐCN 8.220 và Trường CĐCNTT 2.724 sinh viên.  

Đặc biệt, các lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu của Đại học Đà Nẵng rất phong phú, bao gồm hầu hết các lĩnh vực từ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, khoa học giáo dục, khoa học ngôn ngữ, khoa học kinh tế và khoa học kỹ thuật.

Trong hai năm qua, hoạt động NCKH diễn ra hết sức sôi nổi và đạt được nhiều kết quả tốt, tập thể cán bộ, giảng viên của Đại học Đà Nẵng đã công bố nhiều bài báo quốc tế và trong nước trên các kỷ yếu hội nghị và tạp chí.

PGS.TS. Trần Văn Nam phát biểu tại Hội nghị ATC 2011

Trong hai năm học qua, các đơn vị thành viên của Đại học Đà Nẵng đã tổ chức nhiều Hội nghị khoa học quốc gia và quốc tế quan trọng như: Hội nghị Quốc tế về năng lượng sạch và hệ thống giám sát tiên tiến, Hội nghị Quốc tế KSE, Hội nghị Quốc tế ICDV, Hội nghị Quốc tế RIV-IEEE, Hội thảo HEEAP... ở Trường ĐHBK; Hội nghị khoa học về Ngôn ngữ học và Diễn ngôn ở Trường ĐHNN; Hội nghị về Hệ thống thông tin địa lý GIS ở trường ĐHSP; Hội nghị về quản lý vùng bờ ở trường Đại học Kinh tế; Hội nghị quốc tế đồng tổ chức với Đại học Yokohama, Sterling – Bristish Council, Đổi mới toàn diện GDĐH,… tại ĐHĐN.

 

II. Kết quả hoạt động NCKH và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2010 - 2012

Hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ luôn được xem là nhiệm vụ trọng tâm của cán bộ, giảng viên ĐHĐN.  

1. ĐHĐN đã thực hiện một số đổi mới việc quản lý khoa học công nghệ, cụ thể như sau:

- Các trường thành viên cử 1 phó hiệu trưởng trực tiếp phụ trách mảng khoa học công nghệ của đơn vị mình;

- Tuyển nhiều cán bộ, giảng viên trẻ tốt nghiệp đại học loại giỏi, xuất sắc, bổ sung đội ngũ, giảm dần tỉ lệ giảng viên/sinh viên, tạo điều kiện cho giảng viên dành nhiều thời gian nhiều hơn cho nghiên cứu khoa học.

- Bên cạnh tính ứng dụng, các đề  tài khoa học công nghệ luôn luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ và tiến sĩ, xem đó như là một tiêu chí lựa chọn và đánh giá  các đề tài nghiên cứu khoa học.

- Lấy tiêu chí điểm công trình khoa học (theo quy định của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước) để tính điểm thi đua; cán bộ, giảng viên nào đạt 1 điểm công trình (ít nhất có 2 bài báo đăng tạp chí) thì có thể đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua. Giảng viên nào không có 1 bài báo khoa học đăng ở tạp chí thì sẽ bị trừ 60 giờ dạy trong năm học.

- Cải tiến quy trình gửi bài báo cho tạp chí KH&CN của ĐHĐN bằng phần mềm tiện ích. Phần mềm này đến nay đã phát huy được những ưu điểm như nhanh, chính xác, thuận lợi, được các nhà khoa học trong vào ngoài ĐHĐN hưởng ứng (Đến nay đã có 395 tác giả đăng nhập vào phần mềm trở thành cộng tác viên thường xuyên gửi bài và nhận phản biện của tạp chí, www.tapchikhcn.udn.vn).

- Mời các chuyên gia có uy tín của Vụ KHCNMT-Bộ GD&ĐT tập huấn cho cán bộ, giảng viên ĐHĐN về quy trình đăng ký, viết thuyết minh đề tài KHCN cấp Bộ. Kết quả là, có 15 đề tài cấp Bộ trọng điểm gồm 7 đề tài (năm 2012), 08 đề tài (2013); cùng với 1 đề tài nghị định thư và 1 đề tài độc lập cấp Nhà nước (năm 2010).

- Đẩy mạnh liên kết với các doanh nghiệp (như Công ty ô tô Trường Hải,...), các sở khoa học-công nghệ Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Thừa Thiên-Huế, Quảng Trị, Kon Tum,… Kết quả là, nhiều cán bộ, giảng viên đã thực hiện các đề tài NCKH với các tỉnh, thành miền Trung-Tây Nguyên, kinh phí hàng trăm triệu đồng/đề tài.

 

- Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch khoa học của CBVC ĐHĐN, công khai trên mạng ud.edu.vn; hiện nay có 697 người trong hệ thống quản lý này.

- Nhằm tập hợp các nhà nghiên cứu của nhiều ngành, phát huy tối đa năng lực nghiên cứu của tập thể và cá nhân, những năm qua ĐHĐN chủ trương thành lập các nhóm giảng dạy–nghiên cứu (Teaching Research Teams - TRT). Cho tới nay, các nhóm TRT đã phát huy tác dụng mạnh mẽ trong nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt đào tạo sau đại học. Các công trình nghiên cứu có giá trị, các bằng phát minh sáng chế được áp dụng trong công nghiệp, các đề tài khoa học, dự án hợp tác quốc tế của ĐHĐN cũng xuất phát từ các các nhóm TRT này. Chẳng hạn, năm 2010, nhóm nghiên cứu về Hóa tính toán và Công nghệ sinh học (Trường ĐH Bách khoa) đã nhận được 02 đề tài từ quỹ NAFOSTED. Hiện nay ĐHĐN đã xây dựng được 12 nhóm TRT, trong đó có 3 nhóm mới hình thành: Nghiên cứu giảng dạy công nghệ thông tin (ĐHBK), Tin học ứng dụng (ĐHSP) và Môi trường & Tài nguyên Sinh học (ĐHSP). Trên cơ sở kinh nghiệm của các nhóm giảng dạy–nghiên cứu đã được hình thành ở một số trường, trong giai đoạn tới ĐHĐN sẽ củng cố và tăng cường thêm các nhóm giảng dạy–nghiên cứu ở tất cả các trường thành viên cả về số lượng lẫn chất lượng; phát huy ưu thế trong việc đấu thầu các đề tài khoa học công nghệ của Bộ và các tỉnh/thành.

- ĐHĐN một mặt đổi mới việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo ở các trường, đơn vị thành viên theo yêu cầu của từng nhóm giảng dạy–nghiên cứu (TRT), mặt khác chủ trương thành lập Trung tâm Công nghệ cao ĐHĐN (TECHNOPOLE) – nơi ươm tạo công nghệ, phát triển những công trình nghiên cứu của cán bộ, giảng viên ĐHĐN để áp dụng trong thực tiễn. Trung tâm này sẽ tạo điều kiện phát triển các mối quan hệ giữa nhà trường và các cơ sở doanh nghiệp để các nghiên cứu, phát minh nhanh chóng đi vào cuộc sống. Các nhóm TRT nêu trên được đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất và đào tạo cán bộ. Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, trước hết cho các nhóm giảng dạy–nghiên cứu có nơi làm việc, giảng viên có “góc nghiên cứu” riêng.

- Phối hợp thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Logistics (4/2012) nhằm triển khai Đề án “Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Logistics của khu vực” trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam và Vùng Wallonie-Bruxelles của Vương quốc Bỉ giai đoạn 2013-2015 và thành lập Trung tâm Nghiên cứu Quản lý rủi ro và Khoa học an toàn (6/2012) nhằm góp phần thực hiện chủ trương và chính sách của Nhà nước về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, rủi ro cho các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên. Triển khai thực hiện các dự án "Tăng cường năng lực nghiên cứu về nền móng công trình" và "Biến đổi khí hậu",...

- Trung tâm Thông tin - Học liệu được trang bị cơ sở dữ liệu và kết nối với Trung tâm Tư liệu Quốc gia. Các tài liệu được số hóa và đưa lên web của ĐHĐN và Trung tâm.

 

Giao diện web portal mới của Trung tâm Thông tin Học liệu

 

2. Những con số cụ thể về hoạt động NCKH và chuyển giao công nghệ

- Cán bộ, giảng viên ĐHĐN đã và đang thực hiện: 1 đề tài độc lập cấp nhà nước, 1 đề tài nghị định thư, 12 đề tài cấp Bộ/cấp Bộ trọng điểm, 131 đề tài KHCN cấp cơ sở do ĐHĐN quản lý, 300 đề tài cơ sở cấp Trường, 5 đề tài KHCN với các địa phương, 4 đề tài của NAFOSTED.

- Một số trường thành viên, đặc biệt là Trường ĐH Bách khoa đã đẩy mạnh hoạt động chuyển giao cho các cơ sở sản xuất trên địa bàn khu vực Miền Trung - Tây Nguyên và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Sản phẩm của trường đã có mặt khắp trên cả nước, đặc biệt là Bộ phụ kiện LPG, Biogas, nhiên liệu thay thế, chế tạo hệ thống lò hơi, hệ thống lạnh, lò sấy, năng lượng mặt trời,... Chỉ tính riêng trong năm học 2011-2012, doanh thu từ hoạt động khoa học công nghệ đạt ước tính 20 tỷ đồng.     

- Tổ chức 45 hội thảo cấp quốc tế, quốc gia, địa phương vùng và cấp đại học, trong đó nổi bật là các hội thảo khoa học tập huấn về Sở hữu trí tuệ, Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, hội nghị sơ kết dự án Trig, Hội nghị Diễn đàn Giáo dục Việt-Đài,…

- Thực hiện và phân bổ đúng kế hoạch ngân sách khoa học công nghệ các năm học 2010-2011 và 2011-2012, báo cáo kế hoạch và triển khai các hoạt động khoa học công nghệ các năm học đầy đủ, đúng hạn, với nguồn kinh phí là 35.735 triệu đồng đã được phân bổ.

Tuy đạt được kết quả đáng khích lệ như trên, song hiện nay với chủ trương đưa nhiều cán bộ, giảng viên trẻ đi đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ngoài (khoảng 300 cán bộ, giảng viên), đồng thời giảng viên phải tham gia giảng dạy nhiều do tỉ lệ sinh viên/cán bộ còn cao nên nhìn chung hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vẫn chưa thật đồng đều.

3. Về nghiên cứu khoa học của sinh viên

ĐHĐN đã cấp 310 triệu đồng cho hoạt động Robocon, 870 triệu đồng cho hội nghị NCKH học trẻ. Định kỳ tổ chức hội nghị nghiên cứu khoa học sinh viên với sự đầu tư thích đáng, năm lẻ ở các trường thành viên, năm chẵn tại ĐHĐN.

 

Thông tin về Hội nghị SV NCKH năm 2012 được đăng tải trên website: http://www.ud.edu.vn/svnckh/

 

Kết quả là năm 2010 và 2011, SV ĐHĐN đã giành được 28 giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học của Bộ GD&ĐT, trong đó có: 2 giải Nhất, 9 giải Nhì, 10 giải Ba và 7 giải Khuyến khích; và 1 giải Honda Yes; được Bộ GD&ĐT tặng Bằng khen về NCKH sinh viên. Hoạt động Robocon của sinh viên ĐHĐN cũng đã được khẳng định trên sân chơi toàn quốc, năm 2012 đạt giải Nhì quốc gia.

4. Về quan hệ với các doanh nghiệp

Nhà trường đã tổ chức hội nghị liên kết với các doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên. Công ty Ô tô Trường Hải đã cấp 120 triệu đồng cho 10 đề tài NCKH của SV Khoa Cơ khí giao thông -Trường ĐH Bách khoa.

 

Trao giấy chứng nhận cho các đề tài NCKH đầu tiên được THACO chọn để hỗ trợ chi phí nghiên cứu

5. Về Tạp chí KH&CN

Giai đoạn 2010-2012, ĐHĐN đã xuất bản được 22 số với 30 quyển gồm 851 bài báo khoa học của cán bộ, giảng viên trong và ngoài ĐHĐN, Việt Nam và quốc tế có chất lượng, được bạn đọc đánh giá cao và được 15/27 Hội đồng CDGS Ngành cho điểm từ 0-0,5 điểm. Ngoài ra, Ban biên tập tạp chí cũng đã hỗ trợ phần biên tập và xuất bản các kỷ yếu cho một số hội nghị hội thảo lớn do các trường thành viên tổ chức và in thành tạp chí.

Giai đoạn 2010-2012, cán bộ, giảng viên ĐHĐN đã đăng được tổng cộng 1371 bài báo, tham luận khoa học, trong đó có 336 bài báo, tham luận khoa học đăng trên các tạp chí khoa học, hội nghị, hội thảo quốc tế.

Từ năm 2011, Tạp chí Khoa học giáo dục Trường ĐH Sư phạm ra đời và đi vào hoạt động.

 

Truy cập website Tạp chí NCKH tại địa chỉ www.tapchikhcn.udn.vn

6. Về sáng kiến, cải tiến

Cán bộ, giảng viên ĐHĐN đã hoàn thành 3 sáng kiến kinh nghiệm làm lợi hàng chục triệu đồng cho các đơn vị của ĐHĐN.

7. Kết quả nổi bật

Một số đề tài KHCN đã mang lại những hiệu quả kinh tế, xã hội lớn, được xã hội thừa nhận và đánh giá cao:

a) Đề tài "Nghiên cứu tổng hợp keo polyphenol formaldehyde từ nguồn nguyên liệu polyphenol được chiết tách từ vỏ thông và keo lá tràm ở Quảng Nam - Đà Nẵng" đã tổng hợp keo polyphenol formaldehyde ứng dụng trong công nghiệp sản xuất ván gỗ ép từ nguồn nguyên liệu polyphenol được chiết tách từ vỏ một số loại cây như thông, keo lá tràm ở Quảng Nam – Đà Nẵng, đã đóng góp thêm vào việc sử dụng hợp chất thiên nhiên trong nền công nghiệp xanh, sạch hiện nay; đồng thời góp phần nâng cao khả năng nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo sinh viên, học viên cao học.

b) Đề tài “Di dân giữa các tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên: Vấn đề và giải pháp” đã khai thác và tận dụng những mặt mạnh của di dân trong phân bổ nguồn lực phát triển kinh tế; Giảm những chi phí xã hội phát sinh do di dân; Tăng hiệu quả cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong trường bằng cách tạo ra môi trường cho giảng viên, học viên và sinh viên nghiên cứu. 

c) Đề tài "Nghiên cứu thiết kế và xây dựng mô hình thiết bị bù công suất phản kháng bằng SVC trên lưới điện Việt Nam" đã nghiên cứu, kết quả thu được trong đề tài có thể ứng dụng trong công tác định hướng chiến lược đầu tư công nghệ xây dựng lưới điện cũng như là việc chọn lựa phương án, phương pháp bù công suất phản kháng nhằm vận hành hệ thống điện tại Việt Nam một cách kinh tế và ổn định. Đề tài có thể triển khai, ứng dụng tại Điện lực PC3, Công ty Truyền tải điện, dùng cho sinh viên và học viên cao học ngành Hệ thống điện làm tài liệu tham khảo và nghiên cứu.

d) Đề tài nghị định thư với Cộng hòa Pháp "Nghiên cứu khả năng kiểm thử trong phát triển hệ thống nhúng" đó bồi dưỡng, đào tạo cán bộ khoa học và công nghệ, đào tạo học viên Cao học ngành Khoa học Máy tính tại Trường ĐHBách khoa, định hướng các đề tài Tiến sĩcho các cán bộ của Khoa Công nghệ Thông tin, Trường ĐHBách khoa. Ngoài ra, kết quả nghiờn cứu của đề tài gúp phần thúc đẩy sự phát triển của hệ thống nhúng tại Việt Nam, đóng góp tích cực vào các thành tựu và vai trò của lĩnh vực kiểm thử và phân tích khả năng kiểm thửvà nõngcao chất lượng sự phát triển của các hệ thống tin học.

e) Đề tài độc lập cấp nhà nước "Nghiên cứu công nghệ sử dụng biogas để phát điện, máy kéo công tác và vận chuyển cơ giới" đã góp phần đào tạo và tổ chức được một lực lượng cán bộ kỹ thuật, chuyên gia có trình độ cao trong lĩnh vực có khí, môi trường, năng lượng, nhiên liệu tái tạo. Đề tài đã tạo ra 5 sản phẩm khoa học, mang tính ứng dụng cao và đã được kiểm nghiệm trong thực tế. Có 2 bằng độc quyền sáng chế được cấp và 1 đơn được chấp nhận hợp lệ, điều đó góp phần tạo ra sản phẩm khoa học công nghệ của ĐHĐN. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được công bố trên nhiều tạp chí KH chuyên ngành và trong các hội thảo, hội nghị khoa học quốc tế, được giới chuyên môn đánh giá cao. Hiệu quả kinh tế và xã hội là đã giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tận dụng khí thải từ biogas để chạy máy phát điện, máy kéo công tác và vận chuyển cơ giới phục vụ cuộc sống người dân nông thôn, miền núi, hải đảo.

III. Đánh giá

Nhìn chung, trong giai đoạn 2010-2012, nhờ những đổi mới trong công tác quản lý khoa học và công nghệ, nhờ sự chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Ban Giám đốc ĐHĐN, hoạt động KHCN của ĐHĐN có những khởi sắc: lần đầu tiên ĐHĐN thực hiện những đề tài nghị định thư, đề tài độc lập cấp nhà nước, đề tài Nafoted với kinh phí được duyệt hàng tỷ đồng. Kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài khoa học được áp dụng vào đời sống sản xuất, được xã hội thừa nhận. Số bài báo đăng trên các tạp chí tăng lên đáng kể, trong đó có nhiều bài đăng trên tạp chí khoa học nước ngoài. Nghiên cứu khoa học của sinh viên ĐHĐN đã đạt những thành tích tốt trong những năm qua, nhiều công trình xuất sắc của sinh viên đã đoạt giải cao của Bộ, Trung ương Đoàn, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật toàn quốc. Phong trào robocon của SV ĐHĐN được đánh giá cao trên phạm vi cả nước.